0931.831.007

Quy định và các công văn về việc ly hôn với một phía đang ở nước ngoài

Hiện nay vấn đề về làm các thủ tục giải quyết việc ly hôn khi có một bên đang ở nước ngoài là một trong những vấn đề được quan tâm và cần hướng giải quyết.

Qua đó, tại công văn ngày 5/10/1993 Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã thực hiện thống nhất với Toà án nhân dân tối cao đưa ra các hướng dẫn thêm, ngoài các hướng dẫn trước tại các công văn số 130/NCPL ngày 16-12-1991 và số 29/NCPL ngày 6-4-1992 của Toà án nhân dân tối cao.

giải quyết việc ly hôn
giai-quyet-viec-ly-hon

Trường hợp 1:

Khi toà án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục ủy thác tư pháp đến lần thứ 2, nhưng kết quả không được các cơ quan tư pháp có trách nhiệm của nước liên quan, (nơi cư trú của 1 bên ly hôn đang sinh sống) đáp ứng, thì qua đó Toà án sẽ liên hệ với Bộ Tư pháp để thông qua Bộ Ngoại giao, yêu cầu cơ quan lãnh sự của nước ta tại đất nước có liên quan thực hiện uỷ thác tư pháp theo quy định tại Điều 30 Pháp lệnh lãnh sự công bố ngày 24-11-1990.

Nội dung chính của Pháp lệnh lãnh sự:

“Lãnh sự thực hiện uỷ thác tư pháp của cơ quan Nhà nước Việt Nam có thẩm quyền đối với công dân Việt Nam ở khu vực lãnh sự, nếu việc đó không trái với pháp luật của đất nước tiếp nhận hoặc điều ước quốc tế mà nước Việt Nam và đất nước tiếp nhận ký kết hoặc tham gia.”

Tiếp theo thì việc thực hiện uỷ thác tư pháp này phải tuân theo các quy định của pháp luật tố tụng của nước Việt Nam.

Trong trường hợp nếu toà án đã thực hiện theo đúng các hướng dẫn đã nêu trên mà việc uỷ thác tư pháp vẫn không có kết quả do bên bị đơn không có địa chỉ rõ ràng, sống lưu vong, không có người quản lý hoặc giảm sát thì Toà án yêu cầu thân nhân của người bị đơn đó gửi cho họ lời khai của nguyên đơn và báo cho họ gửi về Toà án những lời khai hay các tư liệu cần thiết cho việc giải quyết.

Trong trường hợp họ cố tình từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết đến lần thứ hai sau khi được yêu cầu thì Toà án có thể đưa ra xét xử.

Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 45 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự và giải thích cho bên nguyên đơn biết họ có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án cấp huyện nơi họ đang thường trú xác định bên bị đơn mất tích hoặc đã chết theo thủ tục quy định về việc xác định công dân mất tích.

Trường hợp 2:

Trường hợp này đối với những vụ án ly hôn, bên nguyên đơn là người ở trong nước bị bỏ dở nhiều năm, bên phía bị đơn là người đang ở nước ngoài, nhưng có đầy đủ căn cứ chứng minh là bên bị đơn vẫn liên lạc về cho thân nhân của họ ở trong nước và thân nhân của họ lại không chịu cung cấp địa chỉ, tin tức của bên bị đơn cho Toà án, cũng như không chịu thực hiện theo các yêu cầu của Toà án thông báo cho bên bị đơn biết để bên bị đơn gửi lời khai về cho Toà án… thì qua đây được xem là trường hợp bên bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo và từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết.

các quy định trong ly hôn
cac-quy-dinh-trong-ly-hon

Sẽ có 2 trường hợp xảy ra:

Nếu Toà án đã yêu cầu lần thứ hai mà thân nhân bên bị đơn cũng không chịu cung cấp thông tin cho Toà án, không chịu thực hiện yêu cầu của Toà án thông báo thì Toà án có thể đưa vụ ly hôn ra xét xử.

Nếu không có đầy đủ các chứng cứ để có thể chứng minh được là bên phía bị đơn vẫn gọi điện về cho người thân của mình ở trong nước và người thân không cung cấp thông tin cho Toà án thì

Toà án ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án. (Quy định tại điểm c khoản 1 Điều 45 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự).

Tiếp đó sẽ giải thích cho nguyên đơn biết họ có thể có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án huyện nơi họ thường trú xác định bên bị đơn mất tích hay đã chết theo các thủ tục quy định về việc xác định 1 công dân mất tích hoặc đã chết.

Trường hợp 3:

Sau khi xét xử sơ thẩm vẫn không có hoặc nắm được thông tin, địa chỉ của bên bị đơn để hoàn tất bản án và người thân của bên bị đơn ở trong nước cũng từ chối việc thông báo cho họ kết quả xét xử của Toà án… thì Toà án sẽ tiến hành gửi công văn cho cơ quan ngoại giao của nước ta ở nước ngoài và sẽ kèm theo bản sao kết quả của bản án ly hôn và yêu cầu niêm yết bản sao bản án ly hôn tại trụ sở của cơ quan ngoại giao đó.

Tiếp theo thì trong thời gian 3 tháng tính từ ngày Toà án gửi công văn kèm theo bản sao bản án ly hôn thì dù Toà án có nhận được hay không nhận được thông báo của cơ quan ngoại giao nước ta ở nước ngoài cũng như thông báo của người thân phía bị đơn ở trong nước về việc đã niêm yết, gửi bản sao bản án ly hôn…

Mà không có đơn, thư của phía bị đơn đang ở nước ngoài về việc họ có thực hiện kháng cáo hay không (quy định tại Điều 59 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự) hoặc Viện kiểm sát nhân dân kháng nghị thì việc xét xin ly hôn sẽ được thi hành theo thủ tục và quy định chung.